Nhị Thập Tứ Hiếu

0
14
Nhị Thập Tứ Hiếu

Vui lòng chọn định dạng file để tải.

Người tai mắt đứng trong trời đất,

Ai là không Cha Mẹ sinh thành,

Gương treo đất nghĩa Trời kinh,

Ở sao cho xứng chút tình làm con.

Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết

Thì suy ra trăm nết đều nên,

Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,

Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu.

Mục lục cuốn sách Nhị Thập Tứ Hiếu:

I. Ngu Thuấn

II. Văn Đế

III. Tăng Tử

IV. Mẫn Tử Khiên

V. Trọng Do

VI. Diếm Tử

VII. Lão Lai Tử

VIII. Đồng Vĩnh

IX. Quách Cự

X. Khương Thị

XI. Thái Thuận

XII. Đinh Lan

XIII. Lục Tích

XIV. Giang Cách

XV. Hoàng Hương

XVI. Vương Thôi

XVII. Ngô Mãnh

XVIII. Vương Tường

XIX. Dương Hương

XX. Mạnh Tông

XXI. Du Kiềm Lâu

XXII. Đường Thị-vợ họ Thôi

XXIII. Châu Thọ Xương

XXIV. Hoàng Đình Kiên

Một vị vua trong Ngũ Đế thời thượng cổ họ Diêu tên là Thuấn, một trang hiếu tử. Sau được vua Nghiêu, hiệu là Đào Đường gả hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, rồi lại truyền ngôi báu cho. Vua Thuấn lên ngôi đặt niên hiệu là Đường Ngu.

Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dỡ, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẫu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cỗ Tẫu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn trọn gìn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn Cổ Tẫu và người dì ghẻsai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên. Đến khi được vua Đường Nghiêu truyền ngôi, suốt 18 năm trị vì, Đế Thuấn chỉ ngồi gảy đàn hát khúc Nam Phong mà trị bình thiên hạ, nhà nhà đều lạc nghiệp âu ca.

Nguyên Bản:

Đội đội canh điền tượng,

Phân Phân vân thảo cầm,

Phụ Nghiêu đăng báo vị,

Hiếu cảm động thiên tâm

Có nghĩa là

Hàng đàn voi về cày ruộng,

Hàng bầy chim đến nhặt cỏ,

Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,

Hiếu thảo động lòng trời.

Diễn Quốc Âm:

Đức Đại Thánh họ Ngu, vua Thuấn,

Buổi tiềm long gặp vận hàn vi,

Tuổi xanh khuất bóng từ vi

Cha là Cổ Tẫu người thì ương ương,

Mẹ ghẻ tính càng khe khắt,

Em Tượng thêm rất mực điêu ngoa,

Một mình thuận cả vừa ba,

Trên chiều cha mẹ dưới hòa cùng em.

Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt,

Dẫu tử sinh không chút biến dời,

Xót tình khóc tối kêu mai

Xui lòng ghen chét hóa vui dần dần,

Trời cao thẳm mấy lần cũng đến

Vật vô tri cũng mến lọ người.

Mấy phen non lịch pha phôi,

Cỏ chim vì nhặt, ruộng voi vì cày.

Tiếng hiếu hữu xa bay bệ thánh,

Mệnh trương dung trao chánh nhường ngôi

Cầm thi xiêm áo thảnh thơi,

Một nhà đầm ấm, muôn đời ngợi khen.